Trang nhất






Thăm dò ý kiến
Bạn đánh giá trang Web này thế nào?
Trợ giúp online
Thống kê
Số người đang online: 22
Lượt truy cập: 24586665
Hoạt động KHCN và Hợp tác Quốc tế Hội nghị-Hội thảo

 Tóm tắt - Ở nước ta từ trước tới nay công đoạn làm sạch mặt lớp cấp phối đã dăm trước khi rải bê tông nhựa thường sử dụng máy nén khí hoặc quạt thổi để thổi bụi rác và dùng chổi quét để thu gom vật liệu rời rạc. Chính vì hoạt động này đã làm phát sinh bụi, gây ô nhiễm bụi rất trầm trọng đối với môi trường không khí xung quanh. Nồng độ bụi trong không khí ở các nơi có hoạt động thổi bụi thường vượt trị số tiêu chuẩn cho phép tới hàng chục lần. Đã có nhiều giải pháp được đề xuất nhằm giảm thiểu lượng bụi phát sinh cũng như giảm thiểu ảnh hưởng trong hoạt động thổi bụi mặt đường như, tuy nhiên các giải pháp này chưa thực sự phù hợp. Sau một thời gian ngắn nghiên cứu, các nhà khoa học của Viện Khoa học và Công nghệ GTVT đã hoàn thiện thiết kế và chế tạo thành công thiết bị tạo nhám thu hồi bụi, hạt rời mặt móng đường trước khi rải bê tông nhựa. Thiết bị đáp ứng được tất cả các chỉ tiêu về tạo nhám mặt móng đường và không gây bụi.

Bài báo trình bày tổng quan một số vấn đề trong nghiên cứu thiết kế, chế tạo đã được giải quyết để cho ra đời thiết bị tạo nhám và thu hồi hạt nhỏ trên bề mặt lớp cấp phối đá dăm mặt đường ô tô trước khi thi công lớp bê tông nhựa, kịp thời đáp ứng yêu cầu thi công và góp phaafp giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở nước ta.

 Tóm tắt - Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016, phát thải từ hoạt động GTVT là một trong những nguồn chính gây ô nhiễm không khí đô thị. Tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh xe mô tô, xe gắn máy chiếm đến 95% về số lượng phương tiện tham gia giao thông nên được đánh giá là nguồn phát thải chính trong tổng lượng phát thải của các loại xe cơ giới ở hai thành phố.Từ năm 2010, Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Kiểm soát khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông tại các tỉnh, thành phố” nhưng cho đến nay hầu hết các mục tiêu cơ bản của Đề án đều không đạt được. Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho việc kiểm soát khí thải xe mô tô, xe gắn máy là người dân chưa thấy được lợi ích của chương trình và do đó chưa có sự đồng thuận. Để các cấp, các ngành có cơ sở trong việc đưa nội dung “Kiểm định khí thải” xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông trong Luật Giao thông đường bộ sửa đổi cần có các nghiên cứu khoa học về mức phát thải, các tác động tích cực và tiêu cực nếu kiểm soát khí thải của loại hình phương tiện này. Bài báo này tóm tắt kết quả chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Viện KH&CN GTVT và Hiệp hội xe máy Việt Nam về vấn đề nêu trên.

 Tóm tắt -Nước ta có 34 bến cảng, 272 cảng (báo cáo của Cục Hàng Hải Việt Nam) với chiều dài trên 40 km dọc theo bờ biển và các cửa sông từ Bắc vào Nam. Ngoài khoảng 20% số cảng được xây dựng trước năm 2000, còn lại được xây dựng mới từ sau năm 2000 trở lại đây. Sau một thời gian khai thác, sử dụng nhiều cảng đã có dấu hiệu xuống cấp hoặc hư hỏng đặt ra vấn đề cần phải có chương trình bảo trì hợp lý và hiệu quả. Với sự phát triển và đổi mới trong công tác bảo trì như quản lý vòng đời, các công nghệ sửa chữa và bảo trì tiên tiến, các phương pháp đánh giá toàn diện cũng như việc tiến đến bảo trì với công nghệ 4.0 dẫn đến cần phải xây dựng một tiêu chuẩn mới phù hợp. Được sự cho phép của Bộ GTVT Viện KHCN GTVT đang kết hợp với Nhật bản để soạn thảo tiêu chuẩn TCVN cho bảo trì công trình cảng biển. Trong phạm vi của bài báo này, chúng tôi giới thiệu một số nội dung mới khi nâng cấp từ tiêu chuẩn cơ sở đã ban hành.

 

 Tóm tắt - Bài báo trình báy tóm tắt các kết quả nghiên cứu, các tài liệu hướng dẫn trên thế giới về phân tích, đánh giá công trình BT DƯL nói chung sau khi bị cháy. Bài báo cũng đã áp dụng các kết quả nghiên cứu trên trong việc khảo sát, đánh giá và đề xuất giải pháp xử lý đối với cầu Ngòi Thủ trên cao tốc Nội Bài – Lào Cai sau sự cố cháy xe chở dầu ở dưới gầm cầu. Cuối cùng bài báo đưa ra một số kết luận về ảnh hưởng của cháy đến công trình cầu BT DƯL, đồng thời cũng kiến nghị một số nội dung trong công tác quản lý khai thác cầu BT DƯL, công tác nghiên cứu khoa học về vấn đề này.

 Tóm tắt  -Trên thế giới có nhiều mô hình thí nghiệm để đánh giá khả năng chống nứt  của bê tông nhựa như mô hình uốn dầm 2 điểm, uốn dầm 3 điểm, uốn dầm 4 điểm, uốn dầm 5 điểm và mô hình  kéo (nén). Tuy nhiên phương pháp thí nghiệm uốn dầm bán nguyệt SCB và thí nghiệm uốn dầm 4 điểm là hai phương pháp được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Thí nghiệm uốn dầm bán nguyệt SCB là thí nghiệm uốn mẫu dầm 3 điểm giúp kiểm tra, đánh giá nhanh và chính xác khả năng chịu kéo uốn, khả năng kháng nứt mỏi của mẫu bê tông nhựa ở điều kiện nhiệt độ khai thác thông thường. Ở Hoa Kỳ đã có các tiêu chuẩn thí nghiệm uốn dầm bán nguyệt SCB để đánh giá khả năng chống nứt mỏi của bê tông nhựa như AASHTO TP 124 và ASTM D8044. Bài báo này trình bày một số kết quả nghiên cứu đánh giá khả năng chống nứt của bê tông nhựa theo mô hình uốn dầm bán nguyệt SCB theo AASHTO TP 124.

       6  7   8  9  10